Anh chàng người Kazak Khüan đã ghép liền năm chiếc container to tướng dọc theo vỉa hè một trong những con phố trông ra khu chợ ô tô Da Khuree. Anh ta đã biến chúng thành xưởng cơ khí của mình. Chúng được đặt trên khoảnh đất trống, và anh chàng Kazak đã dùng mỏ hàn cắt phần đáy bằng thép đi. Đám thợ cơ khí và anh ta lách người chui vào bên dưới để sửa chữa tân trang hệ thống treo và bộ ly hợp của đám xác xe sẽ được anh ta đem bán lại dưới dạng xe cũ ngoài chợ, giữa hàng nghìn chiếc xe xếp hàng trong các bãi để xe rộng mênh mông. Cả ngày lẫn đêm, chợ ô tô đông nghịt người mua kẻ bán, người bán hàng rong, đám móc túi, những người đẩy xe hàng rong, gái mại dâm, lũ lưu manh vặt, những nhà sư hành khất, những thương gia biến chất thành vô lại, đám buôn lậu và những kẻ khờ khạo. Từ vài năm nay, đây đã trở thành một trong những nơi tai tiếng nhất Oulan-Bator.
Xưởng của anh chàng Kazak có vẻ khá phát đạt. Năm chiếc container đều đầy ắp những chiếc xe được đám thợ cơ khí mổ xẻ dưới ánh đèn điện di động, trong thứ mùi nồng nặc của dầu thải, han gỉ và hơi xăng.
“Khüan đâu?” Yeruldelgger lên tiếng hỏi cái mông nhem nhuốc đầy dầu mỡ của người đàn ông đang thò đầu vào trong một khoang máy.
Một bàn tay cầm chiếc cờ lê kiểu Anh chui ra khỏi khoang máy để chỉ hướng cho ông.
“Ngoài kia, dưới chiếc Lada.”
Yeruldelgger lại gần một chiếc Lada có cầu trước được kênh lên bằng kích khí nén. Một người đàn ông có vẻ đang muốn đập tan cái xe từ bên dưới bằng những nhát búa thật lực. Ông ta nằm ngửa duỗi dài, giữa hai thanh tà vẹt đường sắt được đặt song song luồn vào dưới chiếc xe.
“Chui ra khỏi đó, Khüan,” vị cảnh sát trưởng vừa ra lệnh vừa đá một cú vào chân người thợ máy.
“Yeruldelgger!” giọng ồm ồm như quỷ vang lên không chút ngạc nhiên qua nắp ca pô để mở.
“Chui ra khỏi đó không tôi sẽ hạ kích xuống!” viên cảnh sát nhắc lại.
“Kể từ lần cuối cùng ông qua đây tôi luôn dùng miếng chêm khi làm việc!” giọng nói nọ trả lời.
Yeruldelgger ngồi xổm xuống, hai tay cầm lấy miếng chêm thứ nhất kéo nó về phía mình để nó trượt ra xa đằng sau hai chân ông.
“Anh có chắc là chỉ với độc một miếng chêm thì mọi thứ cũng vẫn ổn không?”
“Được rồi! Được rồi!” Con quỷ thở dài, từ tốn sắp xếp lại mấy món dụng cụ không chút vội vàng trước khi chui ra từ gầm chiếc Lada. “Lần này ông đến đây làm gì hả?”
“Ăn trưa…”
Người đàn ông duỗi thẳng thân xác kềnh càng của anh ta. Trong bộ đồ bảo hộ màu cam nhem nhuốc dầu mỡ và mở khóa kéo tới tận rốn, anh này cao hơn Yeruldelgger cả một cái đầu. Anh ta chùi hai bàn tay vào cái khăn đen nhẻm cáu ghét, và các múi cơ trên cẳng tay nổi cuộn lên dưới làn da như những sợi cáp cầu treo.
“Quán ăn của bà lão vẫn còn mở ở phố đằng sau chứ?” vị cảnh sát trưởng hỏi.
“Phải!” anh chàng Kazak vừa trả lời vừa xoa xà phòng nước của Nga lên hai bàn tay cho lên bọt. “Vẫn là món thịt cừu hầm của ông chứ gì?”
“Hơn bao giờ hết! Những nhà hàng phục vụ món thịt cừu hầm và sữa chua ấm phải được ghi vào di sản quốc gia.”
Quán án chỉ là căn nhà tồi tàn bằng gỗ lợp tôn của một bà lão người Bouriate gốc gác vùng phía Bắc Khentii. Góa chồng từ bốn mươi năm nay, bà lão đã nấu ăn cho đám du thủ du thực tại khu chợ lâu đến mức trở thành bà của cả đám này.
“Xin chào bà nội!” Khüan lên tiếng chào với giọng cộc lốc không che giấu nổi tình cảm anh ta dành cho bà lão.
“Khi một gã Thổ mò đến nhà, khách khứa chuồn ráo cả!” bà lão bình phẩm.
“Nhầm rồi, bà nội ơi, vừa khéo con mang khách đến cho bà đây!”
Bà lão ngước mắt lên khỏi đám nồi xoong và chảo rán để nhìn xem ai đi cùng anh chàng Kazak. Khi nhận ra Yeruldelgger, khuôn mặt nhăn nheo chai sạn vì tuổi tác và những mùa đông lại càng thêm nhàu nhĩ vì một cái cau mày khó chịu.
“Anh chàng này à?” bà lão vừa nói vừa giơ cái chảo dính đầy dầu sôi lên. “Anh ta còn bằng cả mười gã khách Thổ! Giấu anh ta vào một xó, nếu muốn tao phục vụ mày!”
Hai người tuân lệnh vì sự kín đáo cũng hợp với họ. Dù không thể làm khác, Khüan cũng không muốn chưng mặt ra quá lộ liễu khi đi cùng cảnh sát. Về phần Yeruldelgger, vì ông không còn chính thức phụ trách bất cứ cuộc điều tra nào, còn khu chợ này nhung nhúc những tay chỉ điểm theo đúng truyền thống vĩ đại của các nước cộng hòa hậu Xô viết, ông cũng muốn kín đáo là hơn.
“Tôi đoán là thịt cừu hầm và sữa chua ấm phải không?” bà lão hỏi.
Anh chàng Kazak từ chối bằng cách làm bộ phóng đại sự ghê sợ của mình. Anh ta chẳng bao giờ hiểu nổi sở thích của Yeruldelgger với món hầm chán chết này. Lại càng không thể hiểu thói quen ăn món này sau món kia. Thay vì món hầm, anh ta gọi mấy chiếc bánh nhân thịt cừu và hai chai bia. Khi bà lão vừa rời đi vừa lẩm bẩm gì đó phàn nàn về đám Thổ chẳng biết thứ gì là ngon, Khüan tỏ thái độ để vị cảnh sát trưởng hiểu anh ta đang bận và hỏi ông muốn gì.
“Một chiếc xe.”
“Ông đi nghỉ à?” anh chàng Kazak bông lơn.
“Một chiếc UAZ 452 màu xanh lam, có lắp kính, kiểu cũ,” Yeruldelgger nghiêm trang nói tiếp.
“Rồi còn gì nữa?” Khüan giễu cợt.
“Đã biến mất lưu thông từ năm năm trước, mang biển kiểm soát Oulan-Bator với hai số 9 trên biển số.”
“À!” anh chàng Kazak trở nên nghiêm túc. “Vậy là không phải để đi nghỉ!”
“Không. Có vẻ những người đã lái nó cách đây năm năm cuối cùng đã có một kỳ nghỉ vĩnh hằng.”
“Hiểu rồi!” anh chàng Kazak thốt lên. “Tôi sẽ để ý nhìn quanh một chút và báo cho ông biết nếu tôi tìm thấy thứ gì đó.”
“Tìm cho ra thứ gì đó!” Yeruldelgger nhấn mạnh.
“Ô kìa, đồng chí, xem ông kìa! Chúng ta đang nói đến một cái xe biến mất cách đây năm năm, hơn nữa lại còn chưa nói xem tôi kiếm chác được gì!”
“Đừng có coi tôi là thằng ngốc,” cảnh sát trưởng vừa nói vừa giả vờ đang cố kìm nén một cơn giận lôi đình. “Chẳng cái xe nào có thể rời khỏi đất nước này mà không bị ghi nhận ở bên này hay bên kia biên giới. Dù ngoài thảo nguyên hay trên núi, không chiếc xe bị bỏ lại nào thoát khỏi sự tò mò của những người du mục hay các thợ săn. Chiếc UAZ chẳng ở nơi nào khác nữa, vì thế chắc chắn nó phải đi qua Oulan-Bator, và nếu đã qua đây, thì bắt buộc chiếc xe phải qua khu chợ này. Thế nên anh sẽ moi ra nó cho tôi hoặc tìm hiểu cho tôi bây giờ nó ra sao.”
“Thế đổi lại tôi sẽ được gì?”
“Anh bạn có nó trước mặt mình rồi đấy!” Yeruldelgger vừa trả lời vừa chỉ vào đĩa bánh nhân thịt cừu ròng ròng những dầu vừa được bà lão Bouriate mang ra để lên cái bàn không trải khăn. “Tôi sẽ trả tiền!”
“Thuế chúng tôi đóng đâu rồi!” anh chàng người Kazak thở dài trong khi tấn công ngập răng vào chiếc bánh đầu tiên vàng ruộm.
“Anh bạn làm ăn lậu!”
“Hóa ra thuế lậu chúng tôi đóng tới đây!” Khüan chỉnh lại.
Hai người mời nhau uống mà chẳng buồn mỉm cười bằng cách cụng chai bia Chinggis biểu tượng quốc gia của mình với nhau, rồi ăn trong im lặng. Riêng Yeruldelgger xì xụp húp thật to từng thìa nước hầm để thể hiện cảm giác ngon miệng trước niềm hạnh phúc thầm kín của bà lão mà ông đưa mắt nhìn với vẻ đồng lõa. Ông thích làm người già vui lòng. Đó là bổn phận của chúng ta đối với họ vì những gì họ đã chịu đựng và trải qua, và cũng là những điều còn đang chờ đợi tất cả chúng ta.
Hai người chia tay khi ra khỏi quán ăn, và anh chàng Kazak hộ pháp, người đã đề nghị gọi hai suất kuushuur do Yeruldelgger trả tiền, rời đi sau khi hứa với ông sẽ tìm hiểu ngay khi công việc ở xưởng cho phép anh ta có thời gian.
Khüan quay lại khu trung tâm của chợ ô tô, nơi chiếm cứ diện tích của nhiều khối nhà, và luồn vào giữa hai trong số mấy chiếc container. Ở đằng sau nơi anh ta gọi là xưởng của mình, trên một khoảnh đất bỏ hoang, anh ta đã dựng một cái lều cũ cáu bẩn dùng làm chỗ ngủ, nhà kho và kiêm cả văn phòng. Anh ta đi thẳng tới chỗ cái bàn nhỏ, lấy chiếc iPhone từ trong ngăn kéo rồi gọi tới một số trên danh bạ. Trong lúc đợi người được gọi trả lời, Khüan dùng bàn tay còn rảnh cầm một bộ khởi động to tướng của chiếc xe Land Cruiser trên bàn lên ngắm nghía cho đỡ sốt ruột.
“A lô? Tao đây. Mày còn nhớ cái UAZ màu xanh lam hồi năm năm trước không hả? Một tay cớm đang tìm nó…”
“Điều hay ho ở đám Kazak là có thể lường trước được các người. Mạnh mẽ, thủ đoạn, điên dở, nhưng có thể lường trước được.”
Yeruldelgger ở đó, trong căn lều, trước cửa vào, hai bàn tay đút vào túi áo măng tô. Khüan tự hỏi tại sao lại không có ai báo trước cho anh ta. Cả khu chợ này chỉ là một hệ thống các mật mã và thông điệp. Đáng lẽ ai đó trong xưởng đã phải báo trước cho anh ta bằng cách gõ lên bất cứ thứ gì. Ở Altaï Car Service, trong trường hợp cớm xuất hiện sẽ là ba tiếng gõ liên tiếp, một tiếng gõ rời, rồi đến hai tiếng gõ liền nhau nữa. Giữa bất cứ khung cảnh ồn ào nào, giữa tất cả các loại mật mã khác của tất cả những kẻ buôn lậu vặt và những gã vật vờ ở chợ ô tô, có lẽ Khüan có thể nhận ra ám hiệu này. Như anh ta đã nhận ra khi được báo trước về chuyến ghé thăm của vị cảnh sát trưởng, trước bữa ăn.
“Anh bạn cho rằng tôi chi tiền bữa trưa với anh bạn chỉ vì đôi mắt đẹp của anh bạn thôi hả? Tôi đã để áo măng tô của mình lại ở chỗ mấy tay thợ của anh và nói với bọn họ là tôi sẽ ghé qua lấy áo sau bữa ăn, để bọn họ nghĩ anh bạn đã biết tôi sẽ ghé qua. Vì thế bọn họ không cảnh báo trước cho anh bạn. Anh bạn nghĩ là đám cớm không biết gì về những thủ đoạn nho nhỏ dùng mấy thứ mật mã trẻ con của mấy người chắc? Nhưng bây giờ chúng ta chấm dứt đùa cợt và…”
Anh chàng Kazak liền cầm bộ khởi động vung lên để ném vào Yeruldelgger, ông đã lường sẵn chuyện này. Ông rút súng từ trong túi ra và bình thản bắn một phát vào xương ống chân anh chàng hộ pháp Kazak, làm anh ta gào toáng lên đổ vật xuống, xương bị phát đạn làm gãy.
“Có thể lường trước được, tôi đã nói với anh bạn rồi mà!” Yeruldelgger vừa nhún vai vừa nói, gần như xin lỗi.
Ông nhặt chiếc iPhone của anh chàng Kazak lên để gọi cấp cứu và báo cho Oyun biết chuyện vừa xảy ra. Đầu tiên ông bấm nhầm số và bật rủa sự vụng về của mình, sau đó bấm thêm hai số khác. Sau khi ngắt máy, ông vẫn cầm chiếc điện thoại thông minh trên tay nghịch nó, kinh ngạc trước chất lượng của thiết bị cũng như những tính năng đa dạng của nó.
“Đau à?” ông hỏi anh chàng Kazak đang nhăn nhó.
“Tất nhiên là tôi đau rồi, ông nghĩ sao chứ?” tay hộ pháp rên rỉ.
“Tốt lắm, tốt lắm!” Yeruldelgger tán thưởng trong lúc ngồi xuống một chiếc ghế đẩu bằng gỗ sơn, hai tay đút vào túi áo. “Sự sáng suốt đang trở lại!”
Đám thợ đã xúm lại bên ngoài lều chứng kiến cảnh tượng mà không dám can thiệp. Vị cảnh sát trưởng nói với họ là ông đã gọi cấp cứu, và họ có thể quay về với công việc của mình. Khi đám này đã rời khỏi, ông kiểm tra bên trong căn lều, khắp xung quanh mình. Nơi này lộn xộn đủ thứ tạp nham được bày bừa bãi không có chút gì truyền thống, nhà xưởng trộn lẫn với phòng ngủ, chẳng hề tôn trọng việc đi lại của các linh hồn và thần linh. Ông tự nhủ đám người Kazak rõ ràng không phải là người Mông Cổ. Có thể là công dân Mông Cổ đấy, nhưng là người Mông Cổ thì không. Rồi ông im lặng đợi xe cấp cứu.
Ngay trước khi những tiếng còi hú kiểu Mỹ báo hiệu cảnh sát và cấp cứu xuất hiện, Yeruldelgger cúi người xuống Khüan đang run rẩy vì đau.
“Tôi đến đây để tìm mua một chiếc xe cũ. Nếu anh bạn nói cho bọn họ biết tôi đến gặp anh bạn để làm gì, tôi sẽ quay lại tặng anh bạn một viên nữa vào khuỷu tay. Chúng ta đã cãi cọ về chuyện trả tiền ăn ở chỗ bà lão Bouriate, anh bạn đã uống say rồi đe dọa tôi với bộ khởi động và tôi đã bắn anh bạn để tự vệ. Và đừng có nói gì về cú điện thoại của anh bạn cả, hiểu chứ?”
Tay Kazak lẩm bẩm một câu chửi bằng ngôn ngữ của anh ta, và Yeruldelgger nói ông thích hiểu điều đó nghĩa là anh ta đã nắm được những gì ông căn dặn.