Một thứ hạnh phúc…
Yeruldelgger quan sát vật thể đó mà chẳng hiểu gì. Thoạt đầu, ông hồ nghi ngắm nhìn khung cảnh bao la của thảo nguyên vùng Delgerkhaan. Thảo nguyên bao quanh họ như đại dương cỏ dại điên cuồng cuộn lên dưới làn gió thổi. Suốt một hồi lâu im lặng, ông tìm cách tự thuyết phục bản thân rằng đúng là ông đang có mặt tại nơi mình đang đứng, và quả là vậy. Giữa không gian mênh mông vô hạn ở phía Nam tỉnh Khentii, và cách xa hàng trăm kilomet thứ có thể lý giải dù ít dù nhiều sự hiện diện phi lý của một đồ vật như vậy.
Viên cảnh sát huyện đứng sau ông một mét đầy cung kính. Còn gia đình du mục đã báo cáo cho viên cảnh sát thì đứng trước ông vài mét. Tất cả cùng nhìn ông, chờ đợi ông đưa ra lời giải thích hợp lý cho sự hiện diện của đồ vật nhô lên khỏi mặt đất, ngả về một bên so với đường chân trời. Yeruldelgger hít một hơi thật sâu, đưa đôi bàn tay to ngoại cỡ xoa xoa khuôn mặt mệt mỏi của mình, rồi ngồi xổm xuống trước món đồ để quan sát kỹ hơn.
Ông phờ phạc, kiệt quệ, như thể bị cuộc đời cảnh sát mà ông không còn thực sự kiểm soát được nữa vắt kiệt. Sáu giờ sáng nay, người ta đã phái ông đi điều tra về ba thi thể bị cắt xẻ bằng dao trong phòng dành cho cán bộ của một nhà máy Trung Quốc ở ngoại ô Oulan-Bator, và năm giờ sau đó, ông có mặt giữa thảo nguyên mà thậm chí còn chẳng hiểu vì sao người ta lại phái mình tới tận nơi này. Ông những muốn được ở lại thành phố để điều tra về mấy cái xác người Trung Quốc cùng đội của mình hơn. Qua kinh nghiệm cũng như qua cảm giác kích thích, ông biết rằng giờ đầu tiên tại hiện trường vụ án có ý nghĩa quyết định. Ông không thích việc mình không trực tiếp có mặt ở đó, dù hoàn toàn tin tưởng thanh tra Oyun, người ông đã cử ở lại điều tra lắm. Cô biết phải làm gì tại đó và sẽ báo cáo với ông nếu cần thiết.
Viên cảnh sát huyện không dám ngồi xổm xuống bên cạnh ông. Anh ta vẫn đứng, khom người xuống, đầu gối gập lại, lưng uốn cong làm đôi. Nhưng khác với Yeruldelgger, anh ta chẳng tìm cách để hiểu. Anh ta chỉ đợi vị cảnh sát trưởng từ thủ đô đến làm việc đó. Còn gia đình du mục thì đã ngồi xổm xuống cùng lúc với ông. Người bố của gia đình có lẽ đã ở tuổi lên ông lên bà, khuôn mặt nhăn lại trước ánh nắng chiếu vào chiếc mũ chóp nhọn truyền thống. Ông lão mặc chiếc áo vạt dài truyền thống bằng vải xa tanh màu lục, thêu chỉ vàng, chân đi đôi ủng da dành cho dân cưỡi ngựa. Người phụ nữ mặc áo măng tô màu lam nhạt vải mềm được thắt lại ở hông bằng dải đai lưng xa tanh màu hồng rộng bản. Cô trẻ hơn rất nhiều so với người đàn ông. Ba đứa trẻ đứng thành hàng dọc, mặc đồ màu đỏ, vàng và xanh lục: hai cậu bé và đằng sau là một cô bé con. Vị cảnh sát trưởng thầm đoán mấy đứa trẻ này có lẽ chỉ cách nhau năm một. Cả gia đình đều có vẻ hân hoan, trên khuôn mặt họ, với làn da thô ráp và đỏ ửng vì gió thảo nguyên, cát hoang mạc và những vết bông tuyết, nở rộng những nụ cười hết cỡ. Khi còn thơ ấu, một thời Yeruldelgger cũng từng là cậu bé của thảo nguyên như mấy đứa trẻ này.
“Thế nào, thưa cảnh sát trưởng?” viên cảnh sát huyện đánh bạo hỏi.
“Thế nào ư, đây là một cái bàn đạp. Một cái bàn đạp cỡ nhỏ. Tôi đoán là anh đã từng thấy một cái bàn đạp rồi chứ, anh cảnh sát?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng. Con trai tôi có một cái xe đạp.”
“Hay quá,” Yeruldelgger thở phào,. “thế thì anh biết một cái bàn đạp nghĩa là gì!”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng.”
Trước mặt họ, gia đình du mục đang ngồi xổm thành hàng dọc tươi cười lắng nghe cuộc trao đổi giữa hai viên cảnh sát. Đằng sau, ta có thể thấy cái lều màu trắng của họ, và bao khắp xung quanh là thảo nguyên xanh rì gợn sóng theo từng cơn gió thổi trải rộng ra đến ngút tầm mắt cho tới tận đường chân trời màu xanh lam của những ngọn đồi đầu tiên. Người ta thậm chí không nhận ra nổi con đường mòn hẹp trên đó chiếc xe địa hình nhỏ của Nga đã lắc lư đưa họ tới tận căn lều.
Yeruldelgger tì hai bàn tay mạnh mẽ của ông lên hai bên đùi như các đô vật sumo Nhật, và so vai để cố kiềm chế cơn bực tức đang dâng lên.
“Chính vì cái này mà cậu đã đề nghị tôi tới hả?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng…”
“Cậu bắt tôi phải đi ba giờ đường từ Oulan-Bator tới đây vì một cái bàn đạp thò lên khỏi mặt đất sao?”
“Không, thưa cảnh sát trưởng, là vì cái bàn tay!”
“Bàn tay á? Bàn tay nào?”
“Bàn tay ở dưới cái bàn đạp, thưa cảnh sát trưởng.”
“Cái gì? Có một bàn tay dưới cái bàn đạp đó sao?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng, có một bàn tay ở đó, dưới cái bàn đạp!”
Không nhỏm người lên, Yeruldelgger ngoái cổ sang quan sát khuôn mặt viên cảnh sát huyện từ phía dưới. Anh chàng này định giỡn mặt ông chắc?
Nhưng khuôn mặt anh ta không thể hiện bất cứ cảm xúc nào. Không hề có vẻ hài hước. Không hề có chút gì của sự sáng dạ. Chỉ độc một khuôn mặt cung kính tuân theo thượng cấp và đầy hài lòng về sự kém cỏi của bản thân. Để không nổi xung, Yeruldelgger hết sức tập trung chú ý đến vật thể mà sự hiện diện giờ đây đã trở nên kịch tính hơn nhiều. Đầu một cái bàn đạp xe đạp nhỏ xíu thò lên mặt đất, hơi ngả về một bên so với đường chân trời, nhưng giờ lại có thêm một bàn tay ở bên dưới.
“Mà làm sao cậu biết có một bàn tay dưới đó?”
“Vì những người du mục đã đào nó lên, thưa cảnh sát trưởng,” viên cảnh sát đáp.
“Đã đào lên!? Thế là thế nào, họ đã đào nó lên ư?” Yeruldelgger thầm nổi cáu.
“Họ đã đào nó lên, thưa cảnh sát trưởng. Họ đã đào bới xung quanh và xúc đất lên. Khi lũ trẻ thấy cái bàn đạp thò lên mặt đất trong lúc chơi đùa, chúng đã bới đất để moi nó lên, và trong lúc đào bới chúng đã phát hiện ra bàn tay.”
“Một bàn tay à? Chắc chứ? Đúng là một bàn tay sao?”
“Vâng, một bàn tay trẻ con, thưa cảnh sát trưởng.”
“Trẻ con á?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng, một bàn tay nhỏ xíu. Nhỏ như một bàn tay trẻ con.”
“Thế bây giờ cái bàn tay trẻ con đấy đang ở đâu rồi?”
“Dưới đó, thưa cảnh sát trưởng.”
“Dưới đó? Dưới cái gì cơ?”
“Dưới cái bàn đạp, thưa cảnh sát trưởng.”
“Cậu muốn nói là họ đã chôn lại nó? Họ đã chôn lại bàn tay đó rồi hả?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng. Cả cái bàn đạp cũng thế, thưa cảnh sát trưởng…”
Yeruldelgger ngước mắt nhìn về phía gia đình du mục mặc áo vạt dài truyền thống đủ màu sắc vẫn đang ngồi thành hàng trên nền xanh thẳm của bầu trời. Bọn họ vừa nhìn ông vừa cùng gật đầu kèm theo những nụ cười hết cỡ để xác nhận lại báo cáo của viên cảnh sát huyện. Ông lại ngoái cổ sang để ngước nhìn lên anh chàng cảnh sát địa phương đang đứng.
“Họ đã chôn lại tất cả! Tôi hy vọng cậu đã hỏi họ vì sao!”
“Tất nhiên là có chứ, thưa cảnh sát trưởng: để không làm xáo trộn hiện trường vụ án…”
Yemldelgger sững người lại để đảm bảo ông đã không nghe nhầm những gì vừa được nghe.
“Để làm gì cơ?”
“Để không làm xáo trộn hiện trường vụ án,” viên cảnh sát huyện nhắc lại, trong giọng nói có chút tự hào.
“Để không làm xáo trộn hiện trường vụ án à!!! Họ đã học được ý tưởng đó ở đâu vậy?”
“Trong Đội điều tra hiện trường: Miami. Họ nói với tôi là họ xem Đội điều tra hiện trường: Miami suốt và Horacio, ông trưởng nhóm điều tra hiện trường Miami luôn yêu cầu không được làm xáo trộn hiện trường vụ án.”
“Đội điều tra hiện trường: Miami cơ đấy!” Yeruldelgger thốt lên.
Ông từ từ đứng dậy trong một động tác đượm vẻ mệt mỏi và chán chường, rồi đưa mắt nhìn căn lều phía sau gia đình du mục cũng vừa đứng cả dậy cùng lúc với ông. Ông e sẽ nhìn thấy thứ đáng lẽ ông đã phải để ý nhận ra khi tới nơi. Ông hơi nghiêng đầu một chút và ở một bên, đằng sau ông lão, viên thanh tra trông thấy một chảo parabol lớn chĩa lên bầu trời mênh mông và trong vắt, và đâu đó trên kia, vô hình, là con chim sắt gieo rắc bất hạnh đang gieo rắc những thứ ngớ ngẩn của nó tới tận những căn lều du mục ở Khentii!
“Trời đất ạ!” ông thở dài cam chịu. “Nói cho tôi xem họ còn kể lại gì với cậu nữa nào?”
“Không còn gì nữa, thưa cảnh sát trưởng. Họ đợi ông. Nếu ông muốn biết thêm nữa, thì phải xem xét cùng với Horacio.”
“Horacio nào?”
“Horacio Caine, đó là tên của viên sếp trong Đội điều tra hiện trường !” viên cảnh sát huyện vừa pha trò vừa hất hàm chỉ về phía ông lão du mục.
Yeruldelgger liền quay sang phía anh ta, mặt đối mặt, mắt nhìn vào mắt, và làm tắt ngấm nụ cười ngu ngốc của anh chàng chỉ bằng một ánh mắt dữ tợn.
“Cậu mà còn hỗn láo với ông cụ một lần nữa là tôi sẽ buộc cậu vào con ngựa của ông ấy rồi cho nó phi nước đại đấy, hiểu chưa hả?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng,” anh chàng cảnh sát tiu nghỉu xin lỗi.
“Và tôi sẽ buộc bằng cái của quý của cậu chứ không phải đuôi ngựa đâu nhé!”
“Bằng gì cơ, thưa cảnh sát trưởng?”
“Bằng cái của quý của cậu!”
“Tôi hiểu rồi, thưa cảnh sát trưởng.”
“Tốt lắm!”
Ngay khi ông vừa tiến một bước về phía họ, cả gia đình nhỏ kia cứng người lại đứng nghiêm đầy thích thú. Yemldelgger nhẹ nhàng bắt chuyện với ông lão, theo cung cách thể hiện sự tôn trọng ông dành cho tuổi tác và các truyền thống du mục của ông cụ.
“Cụ ơi, tôi sẽ cần một cái xẻng cho cậu cảnh sát đây và một cái xô cho tôi. Có được không ạ?”
Ông lão du mục đứng yên nhìn vị cảnh sát trưởng giây lát. Rồi ông cụ nhanh nhẹn quay sang đứa trẻ lớn tuổi nhất và ra hiệu bảo nó chạy đi lấy những thứ vị cảnh sát trưởng yêu cầu. Ngay khi cậu nhóc mang hai món đồ quay trở lại, Yeruldelgger ném cái xẻng cho anh chàng cảnh sát, anh này vụng về bắt lấy nó, rồi ông lật úp cái xô xuống để ngồi thay ghế đẩu ngay cạnh chỗ chiếc bàn đạp nhỏ nhô lên. Ông lấy chiếc iPhone từ trong túi áo măng tô ra rồi ra hiệu bảo cậu bé lớn tuổi nhất lại gần mình. Cậu nhóc cười hớn hở chạy lại chỗ ông rồi đứng nghiêm.
“Cháu biết dùng cái này chứ?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng!”
“Cả chức năng chụp ảnh chứ?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng!”
“Cháu đã xem người ta làm thế trong Đội điều tra hiện trường: Miami phải không?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng! Cả trong Đội điều tra hiện trường: Las Vegas nữa, thưa cảnh sát trưởng!”
Cậu nhóc nói dối như Cuội chẳng khác gì một tay bán gia súc và sắp sửa phá lên cười. Yeruldelgger chỉ cho cậu ta cách sử dụng chức năng chụp ảnh của chiếc điện thoại, rồi đứng dậy ra lệnh.
“Bà chị ơi, tôi sẽ cần một tấm vải trắng to, xin chị giúp cho. Còn các cháu, các cháu sẽ bắt đầu đào bới đất như đã làm lúc trước. Bới bằng tay thôi và đừng nhanh quá, rồi các cháu bốc đất bỏ lên tấm vải mẹ các cháu sẽ mang tới. Đồng ý chứ?”
Ba đứa trẻ và ông lão tán thành bằng một cái gật đầu.
“Còn cháu,” Yeruldelgger nói tiếp,. “cháu sẽ chụp ảnh. Cháu biết đếm đến năm mươi chứ?”
“Vâng, thưa cảnh sát trưởng!” cậu nhóc đáp, và lại hớn hở đứng nghiêm. “Một, hai, ba, bốn…”
“Được rồi, được rồi, chú tin cháu! Cháu cứ đếm thầm đến năm mươi, rồi chụp một kiểu ảnh, rồi lại tiếp tục như thế cho đến khi chú bảo cháu dừng lại, được chứ? Và thỉnh thoảng, chú sẽ yêu cầu cháu chụp thêm một kiểu ảnh về những thứ sẽ có trên tấm vải, rõ chưa?”
“Rõ, thưa cảnh sát trưởng!”
“Còn cậu,” ông nói với viên cảnh sát,. “khi bọn trẻ bới lên được thứ gì đó, cậu sẽ đào xung quanh thứ được tìm thấy ít nhất năm mươi centimet và không cần đào xuống quá sâu. Cậu làm được chứ?”
“À… vâng… tôi nghĩ là được, thưa cảnh sát trưởng.”
Người phụ nữ trẻ quay lại cầm theo một tấm vải trắng. Như thể chỉ còn đợi có thế, Yeruldelgger trải tấm vải ra trước mặt mình và hạ lệnh bắt đầu.
Mọi thứ diễn ra khá nhanh. Lũ trẻ dùng tay bới chỗ đất chúng đã bới lên lúc trước và ném lên tấm vải trắng, rồi Yeruldelgger tãi đất ra để kiểm tra. Thỉnh thoảng, ông lại nhón tay nhặt lấy những thứ mấy người còn lại không kịp có thời gian để thấy rồi cho chúng vào những túi ni lông nhỏ trong suốt ông lấy ra từ trong túi áo. Tiếp theo, ông giũ giũ tấm vải để giũ đất đi rồi lại trải nó lên mặt cỏ. Ông lão nhanh chóng giành lấy nhiệm vụ cuối cùng này, lấy làm tự hào được đích thân hỗ trợ vị cảnh sát trưởng, và Yeruldelgger chẳng mấy chốc đã thấy mừng về những gì đội hỗ trợ bé nhỏ của mình làm được.
Lúc này, toàn bộ chiếc bàn đạp đã được moi ra khỏi đất. Có thể thấy nó được bọc cao su trắng để chống trượt chân. Tiếp theo đến lượt cần bàn đạp mạ crôm đã bong tróc xuất hiện, rồi ngay sau đó là một phần đĩa răng và một mảnh chắn xích bằng sắt màu hồng méo mó với một đầu xích nhô lên trên.
Yeruldelgger ra hiệu bảo tất cả mọi người dừng tay rồi đứng dậy tới gần hơn để xem xét. Thêm một lần nữa, ông hít một hơi thật sâu, đưa mắt nhìn lên trời, rồi vừa thở ra chầm chậm bằng mũi vừa trở lại tập trung vào khám phá của mình. Ông không thích thứ ông đang nhìn. Ông không thích điều sẽ phải suy ra từ nó, và còn ít thích hơn nữa thứ sắp sửa được đào bới ra. Đó là một chiếc xe đạp trẻ con. Một chiếc xe đạp bé nhỏ màu hồng. Của bé gái. Có lẽ khoảng bốn hay năm tuổi, không hơn. Từ chiều dài của cần bàn đạp, ông có thể suy ra kích thước của đôi chân bé nhỏ đã từng hào hứng đạp lên đó. Từ kích thước đôi chân có thể suy ra tiếp kích thước tương đối của cơ thể đứa trẻ, và từ tất cả những thứ đó, một độ tuổi. Một đứa bé con: bốn đến năm tuổi. Một bé gái. Một sinh linh bé bỏng vô tư. Và giờ là một thi thể bé nhỏ miệng đầy đất… Ông không được phép nghĩ tới điều đó. Ông phải bắt mình quên đi. Tập trung nghĩ về bất cứ điều gì, ngoại trừ điều đó.
Yeruldelgger lại chú ý vào cần bàn đạp. Chiếc xe đạp nhỏ đã bị chôn nằm nghiêng. Phần trước nằm sâu hơn, trong một tư thế khiến ông tò mò. Hình dạng của miếng chắn xích màu hồng, cho dù đã méo mó như hiện tại, cũng giúp vị cảnh sát trưởng cảm nhận về chiếc xe. Hướng của chiếc bàn đạp chĩa lên, hay đúng hơn là chếch về phía trước, giúp ông xác nhận suy nghĩ này. Ông cố hình dung rõ hơn những phần vẫn còn bị vùi lấp dưới đất để đoán ra kích thước. Khi nghĩ mình đã có ý tưởng chính xác hơn về chiếc xe, ông dùng gót chân vạch một đường giới hạn trên mặt đất và ra lệnh cho viên cảnh sát bắt đầu đào từ đường giới hạn này vào giữa. Vài phút sau, phần lớn khung chiếc xe đạp trẻ con đã lộ ra. Yeruldelgger không quá nhầm. Đó không phải xe đạp hai bánh mà là xe đạp ba bánh, điều này giải thích vì sao tư thế của nó lại chúi sâu hơn về phía trước. Khám phá này khiến cơn giận bùng lên trong ông. Xe đạp hai bánh vốn là thứ ưa thích của đám nhóc thích làm liều. Nhưng một chiếc xe ba bánh thì đích thực là đồ chơi trẻ con! Nếu mấy người du mục kia không nói dối, ông sẽ tìm thấy dưới đó một đứa trẻ đã chết mà rất có thể là bị ai đó sát hại rồi vứt bỏ thi thể không còn sự sống lại. Ông không thể chịu nổi những tội ác gây ra với trẻ con. Cả ý nghĩ về cái chết của chúng cũng không!.
“Thưa cảnh sát trưởng, kia kìa, bàn tay ở ngay bên dưới cái này,” ông lão vừa nói vừa chỉ vào một thứ có vẻ là miếng chắn đằng trước bằng kim loại màu hồng.
Yeruldelgger quỳ xuống gần cái hố và cúi người xuống để nhìn xuống bên dưới miếng kim loại mà một trong số mấy đứa trẻ vẫn đang dùng đầu móng tay bới đất moi ra. Đó là một bàn tay nhỏ xíu, không nghi ngờ gì nữa. Một bàn tay nhỏ xíu giơ về phía ông, các ngón tay đã bị phân hủy một nữa, như trong một cử chỉ cầu xin có phần hơi vặn vẹo.
“Cháu đừng sợ,” Yeruldelgger thì thầm,. “giờ có chú ở đây rồi, chúng ta sẽ lo cho cháu. Cháu không còn một mình nữa…”
Vị cảnh sát trưởng vốn không có niềm tin vào nhiều thứ, ngoại trừ sự bình yên của các linh hồn. Cuộc sống thật nặng nề khi phải gánh trên vai và thật gian nan để đối đầu, đến mức theo ông mọi linh hồn phải có quyền được bình yên, nghỉ ngơi và tôn trọng khi rời bỏ thế gian. Nói cho cùng, như thế cũng chẳng phải là đòi hỏi quá nhiều ở một vị Thượng đế đã để những đứa trẻ phải chết với đầy đất trong miệng, phải không? Để ít nhất họ được yên nghỉ, như cách nói hay của người Cơ Đốc giáo. Đó là lời hứa duy nhất còn làm ông hy vọng có thể sẽ có một thế giới bên kia. Ý tưởng được an nghỉ trong bình yên.
“Được rồi, mọi người dừng lại. Tôi cần một tấm vải khác. Màu gì cũng được. Các cháu bé tránh ra xa ngoại trừ cháu đang chụp ảnh. Người lớn chúng ta sẽ đào chiếc xe ba bánh lên và để nó vào tấm vải trắng. Rồi chúng ta đưa tiếp thi thể lên và đặt vào tấm vải còn lại, được chứ? Sau đó, tôi sẽ chở nguyên trạng tất cả về Oulan-Bator, tới viện pháp y. Nào, vào việc thôi!”
Đó là một chiếc xe đạp ba bánh bé nhỏ và một thi thể nhỏ xíu. Họ nhanh chóng đưa được chúng lên khỏi lòng đất. Đầu tiên, họ để chiếc xe đạp ba bánh màu hồng lên tấm vải trắng, Yeruldelgger đến gần xem xét thật kỹ lưỡng. Do lực tác động từ kẻ đã chôn nó xuống và của những trận mưa dông mùa hè dữ dội, lớp đất phía trên đã trở nên nặng hơn và chui sâu vào bên trong các ống kim loại của khung xe và ghi đông. Yeruldelgger cầm bốn góc tấm vải túm lại buộc vào với nhau trùm lên chiếc xe. Phòng thí nghiệm pháp y sẽ phải tìm cách xoay xở với chuyện này.
Khi ông buộc xong tấm vải thì mấy người kia cũng vừa đưa thi thể bé nhỏ lên. Cái xác co rúm như một đứa trẻ sợ phải ngủ thiếp đi. Da thịt đã phân hủy nhiều, và phần lớn bộ xương lộ ra. Nhưng họ vẫn còn nhìn ra vài mảnh quần áo và những món tóc vàng xoăn. Hai ngón của bàn tay nhỏ xíu ông nhìn thấy trong đất rơi hẳn ra. Theo phản xạ, Yeruldelgger ra lệnh chú ý cẩn thận và đưa mắt nhìn sang bàn tay bên kia. Da thịt được bảo toàn tốt hơn nhiều. Nắm tay bé bỏng của cô bé tội nghiệp cong queo siết chặt lại trong một cử chỉ mà Yeruldelgger hy vọng là phẫn nộ hơn là kinh hoàng. Cho dù khi nghĩ kỹ lại, phẫn nộ hay kinh hoàng thì cũng hoàn toàn chẳng có gì khác biệt!
Vị cảnh sát trưởng đã cẩn thận dặn dò mấy người kia đào rộng và sâu ra xung quanh, và nhấc lên càng nhiều càng tốt để cái xác nguyên vẹn một khối trong đám đất bao quanh nó. Ông lão là người quỳ gối xuống bên cái hố để luồn hai cánh tay xuống và đưa thi thể lên. Yeruldelgger hiểu ông lão du mục muốn nâng cái xác lên như người ta nâng niu một đứa trẻ. Trong cử chỉ của ông lão chứa đựng lòng yêu thương dành cho đứa trẻ và sự kính trọng dành cho người đã khuất. Ông lão quỳ bất động một lúc bên bờ hố, nâng đứa trẻ áp vào ngực mình, và Yeruldelgger tin ông đang cầu nguyện trong im lặng. Rồi ông lão quay người, đi mấy bước tới chỗ tấm vải đỏ được trải ra trên thảm cỏ xanh, quỳ gối xuống, nhẹ nhàng đặt thi thể bé bỏng vào giữa tấm vải. Chỉ còn lại một đống xương, những mảnh da và nội tạng đã khô quắt và dính đầy đất bẩn, nhưng đây đã từng là một sinh linh bé bỏng với mái tóc vàng đầy vui vẻ cùng những tiếng cười trong vắt như pha lê ngồi trên chiếc xe đạp ba bánh màu hồng.
Yeruldelgger đã ngạc nhiên khi thấy người phụ nữ trẻ từ trong lều đi ra cầm theo một tấm vải đỏ lớn. Trong tất cả những lễ an táng ông từng trải qua, thi thể luôn được bọc bằng vải trắng. Ông lão nhận ra vẻ băn khoăn của vị cảnh sát trưởng bước lại gần ông.
“Khi chết không do nguyên nhân tự nhiên, khi cái chết đến bất ngờ, các lạt ma khuyên nên bọc người chết trong một tấm vải đỏ.”
“Vì sao?” Yeruldelgger hỏi.
“Vì các vị lạt ma nói thế,” ông lão du mục trả lời rất thản nhiên. “Anh đừng có lo, như thế cô bé sẽ ổn,” ông lão giải thích với Yeruldelgger, mắt vẫn không rời khỏi thi thể bé nhỏ. “Khi anh về tới đó, hãy cho cô bé một cỗ quan tài tử tế. Bên dưới hãy lót vải màu xanh lục để cô bé được yên nghỉ trên đó như trên đất thảo nguyên, và bên trong nắp quan tài hãy lót vải xanh lam như bầu trời trên thảo nguyên vậy. Và anh hãy cho gắn bảy quả bóng nhỏ màu trắng lên tấm vải màu xanh da trời ở phía trên đầu cô bé, để bảy vị thần của chòm Đại Hùng Tinh ban phúc cho linh hồn cô bé trong chuyến đi của nó. Đừng quên: anh đã mang cô bé ra khỏi đất, truyền thống đòi hỏi anh phải đưa cô bé lên trời.”
“Cụ ơi, cụ biết đấy, không có gì chứng tỏ cô bé là người ở đây cả.”
“Tôi biết, nhưng cô bé chết ở đây và chỉ có mỗi một mình. Vì thế giờ đây cô bé là người ở chỗ chúng ta, và anh phải lo toan chuyện đó.”
Yeruldelgger quan sát ông lão nhỏ nhắn. Hai bàn tay ông lão đầy vết cứa do dây thừng và giá lạnh, hai gò má chai sạn vì bị gió bão quất, đôi mắt đầy vết nhăn nheo qua những mùa đông. Ông lão đứng đó, bất động, bên cạnh Yeruldelgger, trong chiếc áo vạt dài cổ truyền được thắt lại bằng chiếc thắt lưng to bản, đôi ủng đi ngựa đặt chắc trên mặt đất. Và trong những lời nói của ông lão không hề có sự tức giận. Thứ tức giận uất nghẹn mà Yeruldelgger luôn cảm thấy trào lên trong ông trước mỗi tội ác ghê tởm ông phải đối mặt, mỗi cái chết vô tội, mỗi cuộc đời bị hủy hoại. Một cơn phẫn uất báo thù mà mỗi ngày trôi qua ông càng thấy khó kìm nén hơn, hai nắm tay siết lại trong túi, cổ rụt lại giữa đôi vai, trái tim đè ép lên dạ dày. Nhưng ông lão này lại không để lộ điều gì ngoài vẻ bình thản vừa sâu thẳm như một hồ nước, vừa vô tận như thảo nguyên. Yeruldelgger đột nhiên có cảm giác lạ lùng là ông lão không còn ở cùng họ nữa. Ông cụ chỉ đơn giản là hiện diện ở đó, như thảo nguyên, như những ngọn đồi phía chân trời, những ngọn núi đã mọc lên đây đó cùng cơn gió đã bào mòn chúng từ cả triệu năm nay. Ông lão bé nhỏ không còn là con người nữa, mà là một tảng đá. Đầy ắp. Đặc khối. Vững chắc. Mọi người dừng lại đứng yên khi chờ đợi điều gì đó, nhưng ông lão thì không hề động đậy. Thời gian dường như ngừng lại. Rồi một cơn gió nhẹ khẽ lướt qua họ, luồn quanh họ, khuấy động những đám cỏ màu lam, rồi đột ngột chạy trốn trong một cuộc đua nước đại vui vẻ trên thảo nguyên. Yeruldelgger cảm nhận thấy, như thứ xúc cảm đột ngột chạm vào tim mình, thứ tự do của thảo nguyên hoang dã với cỏ cây vô vàn màu sắc, nơi những đàn ngựa hoang điên cuồng quần thảo. Khi cảm thấy bàn tay ông lão bé nhỏ đặt lên ống tay áo mình, ông như vừa bừng tỉnh khỏi một giấc mơ.
“Linh hồn cô bé giờ đây ở bên anh,” ông lão du mục nói. “Hai người thuộc về nhau cho đến khi anh dẫn cô bé tới nơi nó phải tới.”
“Xin lỗi cụ, tôi sẽ thu xếp cho cô bé hết khả năng, cụ có thể tin tôi, nhưng tôi không thuộc về cô bé. Tôi chẳng thuộc về ai cả,” Yeruldelgger trả lời, ông không thích bị áp đặt những điều bí ẩn. Ông tôn trọng các truyền thống và tin vào những điều không thể lý giải được. Những ảnh hưởng, những tác động qua lại, những sự đan xen. Song ông chỉ muốn là người chứng kiến. Ông đã phải quá vất vả để giữ những mảnh hỗn độn tạo thành sự tồn tại của chính mình ở lại với nhau, sẽ thế nào đây nếu ông buộc phải chấp nhận việc có những sức mạnh khác ngoài ý chí của chính ông can thiệp và áp đặt quyền lực vào nó? Cuộc đời ông từ lâu đã chìm vào một thứ hư vô lạnh lẽo, lặng câm. Ông đã mất đi đứa con gái nhỏ yêu quý, rồi người phụ nữ ông yêu, người đã sinh cho ông đứa con ấy, và ông cũng đang mất nốt đứa con gái lớn, đứa con gái căm ghét mọi thứ về ông. Ông chẳng phải một món quà.
Cảnh sát trưởng Yeruldelgger Khaltar Guichyguinnkhen đã không phải là món quà cho bất cứ ai từ lâu lắm rồi. Làm sao ông có thể chấp nhận việc giải thoát cho một linh hồn bé bỏng vô tội lại phụ thuộc vào mình được đây?
Ông quyết định quay về Oulan-Bator. Ông không thể làm gì thêm nữa ở đây, dù là cho đứa trẻ tội nghiệp hay cho việc bảo vệ các đầu mối. Ông chẳng mang gì theo để bảo vệ hiện trường. Yeruldelgger đề nghị mấy người du mục nhặt đá cuội trắng xếp thành một vòng ranh giới quanh ngôi mộ vừa bị đào lên, và không ai được bước vào bên trong cho tới khi có lệnh mới. Có thể Solongo và nhóm pháp y của cô sẽ muốn tới chỗ này để tìm kiếm thêm các đầu mối bổ sung.
Yeruldelgger chợt cười thầm khi trong đầu ông hiện lên cảnh tượng sau. Trong một giây, ông hình dung ra ông lão đứng thẳng, hai chân dang rộng, hai bàn tay chống vào hông, được quay phim hất từ dưới lên, đầu ngả sang một bên, cặp kính tráng gương Ray-Ban trễ dưới mắt và kèm thêm mái tóc đỏ rực! Tất nhiên ông cũng từng xem Đội điều tra hiện trường: Miami khi thấy chiếu trên truyền hình. Ông biết Horacio Caine. Ông cũng có một cuộc sống. Thỉnh thoảng, một chút, vào buổi tối. Giữa hai cơn ác mộng.
“Cụ này, tôi hứa với cụ sẽ làm hết khả năng, nhưng tôi chỉ là một cảnh sát hình sự. Cuộc sống của tôi chỉ là đi thu gom xác chết. Tôi không thể chịu trách nhiệm về linh hồn của tất cả những người đã chết khi tôi tới tiếp nhận họ.”
Đúng lúc đó, Yeruldelgger thấy một con chó vàng đã đi vào trong vành đai và đang bới bới chỗ đất mới được đào lên với vẻ phấn khích thật ghê tởm. Khi thấy trong cái mõm hau háu của nó ngậm một trong những ngón tay rơi ra từ cái xác bé nhỏ, ông nhặt một hòn đá rồi xua đuổi con chó đi với vẻ phẫn nộ và hung hãn tới mức những người khác chỉ biết đứng sững sờ.
“Tôi hiểu,” ông lão đáp và quay về phía Yeruldelgger.
Ông lão hơi kiểng chân lên một chút trên mũi đôi ủng của mình, đặt đôi bàn tay sần sùi lên hai bờ vai nặng nề của vị cảnh sát trưởng, rồi nhìn thẳng vào mắt ông. Một nụ cười hết cỡ làm bừng sáng khuôn mặt dãi dầu chai sạn vì những mùa đã trải qua trên thảo nguyên.
“Tôi hiểu,” ông lão nhắc lại,. “nhưng anh không phải là người quyết định. Mà là các linh hồn! Và ba linh hồn xa lạ anh đã để lại ở đó cũng đang gọi anh. Đừng có quên họ, cả họ nữa!”
Khi viên cảnh sát huyện dẫn đường cho chiếc xe của họ xóc nẩy ra tới đường mòn, Yeruldelgger nhìn thấy qua gương chiếu hậu người phụ nữ trẻ đang chúc phúc cho chuyến đi của họ. Cô giơ lên ngang tầm mắt một chiếc cốc nhỏ mà ông biết là đựng đầy sữa từ lần vắt gần nhất, rồi bằng một cử chỉ đầy tin tưởng và thành kính, dùng các đầu ngón tay, người phụ nữ rây sữa về bốn phương. Bất chấp cái xác bé nhỏ đang nằm co quắp trong cốp xe của ông cùng thi thể bị chém nham nhở của ba người Trung Quốc đang chờ ông tại Oulan-Bator, Yeruldelgger chợt cảm thấy hạnh phúc được thuộc về đất nước này, nơi người ta chúc phúc cho những người lữ hành đi về bốn phương trời, nơi người ta gọi những chiếc quan tài và những chiếc nôi bằng cùng một từ. Một thứ hạnh phúc…