Mặt trời lên đến đỉnh và Solongo ngắm nhìn khu vườn im phăng phắc. Không có chút gió nào. Cô đi ra tới giữa các thân cây, đôi bàn chân trần giẫm lên thảm cỏ cắt ngắn, hai bàn tay cùng ôm lấy một tách trà bơ muối nóng hổi. Người ta hoàn toàn có thể tin cô đang cầu nguyện, và sự thực cũng gần như thế: cô nghĩ tới Yeruldelgger, người đã năm đêm rồi chưa trở về.
“Anh ta còn sống…”
Solongo ngạc nhiên quay lại và thấy một ông lão cưỡi ngựa ở sau lưng cô vài bước. Chính là ông lão du mục đã cứu cô thoát khỏi đám người cưỡi ngựa ở Vách đá Cháy.
“Cụ vừa nói sao cơ ạ?”
“Người đàn ông cô đang nghĩ tới còn sống.”
“Cụ đã gặp anh ấy sao?”
“Không, nhưng ta biết vậy.”
“Cụ biết?”
“Phải, và cả cô cũng thế. Trong thâm tâm, cô không lo lắng cho tính mạng anh ta. Cô lo về điều anh ta làm. Hay điều anh ta không làm, phải không nào?”
Solongo quan sát ông lão bé nhỏ. Ông già đặt chân xuống đất bằng một động tác cho biết đồng thời cả việc ông đã đi ngựa trên một quãng đường dài lẫn những nhọc nhằn của tuổi tác. Song khuôn mặt ông lão không biểu lộ chút đau đớn nào. Ông vẫn chưng ra nụ cười tinh quái hoàn toàn có thể chỉ là một nếp gấp nhăn nheo hằn sâu trên khuôn mặt ông do những cơn bão tuyết giá buốt và ánh mặt trời chói chang.
“Cụ làm gì ở đây vậy?” Solongo hỏi. “Làm thế nào cụ tìm được cháu?”
“Lần này thì chính cô đã gọi ta đến,” ông lão du mục đáp. “Vì phải tới chợ ngựa của lễ hội naadam lớn, thế nên ta ghé chỗ cô sớm hơn một chút để đáp lại lời gọi của cô và mang cho cô thứ có cần.”
Cô im lặng quan sát ông lão, thấy thú vị trước vẻ tự tin bình thản của vị khách. Từ ông toả ra niềm lạc quan bình lặng đầy tin tưởng mà cô bắt đầu cảm thấy cuộn chảy trong chính mình.
“Cháu mời cụ dùng trà nhé?”
Ông lão đồng ý bằng một cái gật đầu. Ông tháo từ yên ra cái gói nhỏ cuộn trong vải được buộc bằng hai sợi dây da. Cứ xem vẻ thận trọng của ông lão khi cài cái gói vào thắt lưng, Solongo đoán đó là thứ sẽ được trao cho cô. Đúng như phong tục, ông lão để cô bước vào lều trước.
“Cụ đừng để ngựa ăn cây cối của cháu!” cô đề nghị.
“Ta đã nuôi dạy nó cẩn thận, nó sẽ không động đến cây của cô đâu.”
“Cụ đã buộc nó lại chưa?”
“Ta đã huấn luyện nó tử tế, nó sẽ không nhúc nhích đâu.”
Solongo không thể kìm nổi khẽ bật cười và quay người lại nhìn ông lão đi vào lều. Chắc hẳn ông đã cưỡi ngựa suốt một quãng thời gian dài, phơi mình dưới ánh mặt trời, hứng chịu cái nóng ngột ngạt của thành phố, trên những vỉa hè nham nhở và mặt đường nhựa đầy ổ gà. Chuyến đi đã buộc ông phải xắn ống tay áo vạt dài truyền thống lên, nhưng để tỏ lòng tôn kính các linh hồn, ông lại buông ống tay áo xuống tới tận cổ tay trước khi bước qua cửa. Ông chỉnh lại mũ, cẩn thận bước qua của bằng chân phải và dừng bước ở bên trái lều, phía dành cho khách, trong khi đợi Solongo mời mình đi tiếp vào trong. Cũng với sự tôn trọng các quy tắc truyền thống, ở phía ngoài, ông lão đã gài cây roi ngựa rất đẹp của mình vào sợi thừng dùng để căng tấm che bằng dạ của căn lều. Solongo thích sự quy củ vừa là thái độ tôn trọng, vừa là ý nghĩa của truyền thống này. Tất cả những cử chỉ này gần đây đã dần trở thành văn hóa dân gian, kết quả của việc thiếu niềm tin từ những người nhắc lại chúng. Trái lại, với Solongo, đây là sự cân bằng đầy ý nghĩa giữa những cử chỉ tôn trọng mà con người có bổn phận phải dành cho nhau.
Cô mời ông lão vào trong căn lều rộng hơn nhiều so với căn lều truyền thống của mình. Cô để ý dù ấn tượng trước kích thước bên trong, ông lão vẫn tán thưởng sự bài trí đúng nghi thức của căn lều. Đúng như cô trông đợi, ông lão thích ngồi luôn xuống đất hơn, và cô cũng làm tương tự.
“Vậy là cháu đã gọi cụ sao?” cô hỏi, vừa tò mò vừa ngạc nhiên.
“Phải, ta hoặc ai đó có thể giúp cô, nhưng đành phải tin rằng ta là người duy nhất nghe thấy lời cô.”
“Đành phải tin!” Solongo thú vị nhắc lại.
“Cô muốn biết nhiều hơn về những gì đã xảy ra ở Vách đá Cháy, và cô cũng lo lắng cho những người cô yêu quý.”
“Những người cháu yêu quý ư?”
“Phải. Người đàn ông ta đã nói với cô là anh ta còn sống, và cô gái cô chăm sóc, và vì cô gái đó mà ta mang thứ này đến cho cô.”
Ông lão quay lại đối diện với Solongo để đưa cho cô bằng cả hai tay cái gói được cuộn trong lớp vải. Cô đợi ông lão bảo mình mở gói ra để làm việc đó bằng một cử chỉ tinh tế không chút vội vàng. Solongo thấy hai lọ thủy tinh, trong lọ thứ nhất cô nhận ra ngay đựng mỡ gấu, thứ mỡ lâu năm tới mức trông như nước trong suốt, và trong lọ kia là sáp phấn hoa.
“Ta có thể thăm cô gái trẻ được không?” ông lão hỏi.
“Làm sao ông biết được đó là một cô gái trẻ?”
“Nhờ cách cô nghĩ về cô gái,” ông lão đáp như thể đó là chuyện hiển nhiên.
Hai người đứng dậy, và Solongo gập tấm bình phong mà Sara đang ngủ đằng sau lại. Giờ đây, khi tình trạng các vết bỏng của cô gái cho phép, Solongo phủ lên người cô một tấm khăn rất nhẹ bàng lụa màu xanh lam. Ông lão lại bên giường và nhấc tấm khăn lên. Sara nằm ngửa trong khi ngủ. đôi chân và hai cánh tay hơi dang ra.
“Quả là một cô gái đẹp,” ông lão du mục tán thưởng, “cặp vú cô gái thật săn chắc, cặp đùi cũng vậy, nhưng hông vẫn chưa được tròn trịa…”
“Cháu không nghĩ cụ tới đây vì chuyện này…,” Solongo cắt ngang.
“Cô cần thay tấm khăn,” ông lão nói tiếp. “Cô che lên người cô gái một bầu trời vì bầu trời nhẹ còn hơi thở cô gái nặng, nhưng cô gái cần một tấm khăn màu lục như một thứ đất màu mỡ, phì nhiêu. Điều mà những lớp da non cần là người ta nuôi dưỡng chúng như cô làm với mỡ gấu. Hãy đổi màu đi.”
“Và tất cả chỉ có thế thôi sao?”
“Không, trước hết cô cần để tâm tới cái này.”
Ông lão chỉ cho Solongo thấy gò má Saraa loang lổ những mảng da phồng rộp hồng hồng còn mới, nhẵn và bóng láng. Ông lão chỉ cho cô chú ý tới rìa một số mảng phồng và đường mảnh màu đỏ tía hay nâu viền quanh.
“Cô không được phép để thứ này hình thành nếu cô muốn cô gái giữ lại được vẻ đẹp và sức khỏe tốt. Chúng có thể là nơi nhiễm trùng phát sinh và lan rộng. Hãy hãm trà trắng chỉ trong vài phút thôi, để nguội, rồi dùng thứ nước đó lau cho cô gái. Sau đó ra ngoài khu vườn của cô vào lúc sáng sớm, tìm mạng nhện, càng nhiều càng tốt, và đắp chúng lên những vết thương đã được rửa sạch. Như thế các vết thương sẽ liền sẹo nhanh và đẹp hơn.”
“Cháu sẽ làm những gì cụ dặn,” Solongo đáp đầy tin tưởng.
Nhưng ông lão không nghe cô nữa. Ông tới đứng đằng sau Saraa, áp hai bàn tay lên hai bên thái dương cô gái rồi tập trung, đôi mắt nhắm lại ngước lên khoảng mở trên nóc lều. Nữ bác sĩ pháp y quan sát khuôn mặt bị gió mưa cắt xẻ của ông lão và đôi gò má đã mòn vì gió cát, và đột nhiên phát hiện ra trên đó nguồn sức mạnh và ý chí phi thường mà cô chưa hề nhận ra cho tới tận lúc này, bởi trước đó cô chỉ nhìn nhận ông lão qua vẻ bề ngoài: một ông già du mục kỳ dị. Cô vừa vỡ lẽ ra ông lão còn hơn cả thế.
“Các vết bỏng của cô gái sẽ bình phục,” ông lão nói trong khi mắt vẫn nhắm,. “nhưng sẽ cần thêm rất nhiều thời gian và đau khổ để chữa lành những vết thương khác của cô ấy, và cô sẽ chẳng thể làm gì được cho cô ấy đâu. Một số mệnh đầy dằn vặt đang chờ đợi cô ấy. Cô sẽ phải để cô ấy tự chịu đựng, nhưng đừng bao giờ lãng quên cô ấy. Tất cả mấy người các cô đều sẽ khổ sở vì nó, nhưng cô ấy phải chịu đau khổ hơn những người khác nhiều, và đôi khi do lỗi của một người trong số các cô.”
Ánh mắt Solongo đã chuyển từ khuôn mặt ông lão sang khuôn mặt cô gái trẻ, và nước mắt trào lên trong mắt cô. Cô hiểu rõ những lời vừa được nói ra cũng liên quan tới Yeruldelgger không kém gì với con gái ông.
“Đừng khóc,” ông lão du mục an ủi cô. “Từ nỗi đau này sẽ sinh ra một niềm hạnh phúc mà mấy người các cô sẽ phải học cách chia sẻ nó.”
Ông lão nhìn thân hình trần trụi của Saraa lần cuối, rồi kéo tấm khăn lụa của bầu trời đắp lên người cô gái.
“Thực sự là một phụ nữ đẹp. Đừng quên thay tấm khăn.”
Hai người trở lại ngồi bên tách trà, và ông lão nhỏ nhắn trầm ngâm im lặng cho tới khi cuối cùng Solongo cũng hỏi:
“Hãy cho cháu biết vì sao cụ lại tới?”
“Cô gọi ta bằng tất cả các giác quan. Cô dành ra hàng giờ để tự hỏi mình về những tội ác kinh hoàng và ta đã nghe thấy chúng. Vì thế ta tới để nói cho cô những gì ta biết.”
“Về những gì ạ?”
“Về chuyện đã xảy ra trên vách núi chẳng hạn. Cô cần biết lão già nhỏ thó bán cái răng giả cho cô bé con không còn ở đó nữa.”
“Ông ta rời đi rồi sao?”
“Ông ta đã chết. Có lẽ ông ta bị trượt chân trong lúc đi tìm hóa thạch ở một nơi người ta chưa bao giờ tìm thấy chúng.”
“Cụ nghĩ ông ta đã bị giết sao?”
“Nỗi sợ hãi của ông ta vẫn còn thấm đẫm trên mặt đất và những tảng đá khắp xung quanh nơi ông ta rơi xuống. Ta đã giúp bà già tháo dỡ hai cái lều của họ. Ta đã cho bà ta mượn ngựa, và bà ta tới sống xa hơn về phía Đông, gần nơi chồng của một trong những người em gái bà ta dựng trại.”
“Thế còn gã đàn ông đi chiếc Toyota?”
“Ta đã mượn giấy tờ của hắn,” ông già du mục vừa nói vừa lấy từ trong vạt chéo chiếc đai truyền thống của mình ra một cái ví da.
Solongo mở cái ví lục lọi, lần lượt lấy ra từng thứ cô tìm thấy trong đó. Hai bức ảnh chụp một gia đình nhỏ với người chồng mang đúng khuôn mặt đầy vẻ đáng mến và tươi cười của kẻ đã tìm cách giết cô, một bằng lái xe và một chứng minh thư cùng tên, danh thiếp của một hãng taxi tại Oulan-Bator, danh thiếp của một nhà hàng tại Dalanzadgad với một số điện thoại ghi trên mặt sau…
“Cụ đã mượn cái này như thế nào ạ?” Solongo hỏi.
“Ta đã thấy cô hất hắn xuống sườn dốc cùng chiếc xe của hắn rồi phóng xe chạy về phía Dalanzadgad. Ta tới gần xem xét. Hắn bất tỉnh nhưng vẫn còn sống. Ta lục soát hắn rồi phi nước đại tới tận cái bảo tàng nhỏ của thằng bé, và ta bảo nó đi báo cho đám người cưỡi ngựa đã truy đuổi cô. Bọn họ phi nước đại tới, lật lại chiếc Toyota, và hai người trong số họ lập tức đưa gã đàn ông tới bệnh viện ở Dalanzadgad. Không cần tìm hắn làm gì, sau đó hắn đã biến mất rồi.”
Solongo trầm ngâm trong vài giây, tìm kiếm một câu trả lời thỏa màn cho câu hỏi đang ám ảnh cô.
“Tại sao gã này lại tìm cách giết cháu tại đó, trong khi cháu quan tâm tới vụ sát hại một cô bé bị giết năm năm trước ở nơi cách đó sáu trăm kilomet?”
“Đây không phải là câu hỏi hay,” ông lão du mục đáp giữa hai ngụm trà nóng bỏng được uống ngon lành.
“Thế ạ? Cụ có câu hỏi nào xác đáng hơn câu đó sao?”
“Ta có một câu hỏi như thế,” ông lão đáp.
“…”
“…”
“Là gì vậy? Câu hỏi xác đáng của cụ ấy?”
“Câu hỏi là: tại sao người đàn ông đó lại đợi cô ngày hôm ấy ở đúng nơi ấy?”
“Và tại sao câu hỏi của cụ lại xác đáng hơn của cháu?”
“Bởi vì câu hỏi của cô chấp nhận nhiều câu trả lời: hắn là kẻ sát nhân, hắn là đồng lõa của kẻ sát nhân, hắn không phải là kẻ sát nhân nhưng hắn biết điều gì đó, hắn đang thực hiện mệnh lệnh được giao… Đầu mối cô tìm cách kéo ra từ cuộn dây này có thể tới từ bất cứ đâu: cô bé con, bố mẹ cô bé, kẻ giết cô bé, các nhân chứng, ông già đã rơi từ trên vách đá xuống, hay người vợ đã ra đi của ông ta, gã đi xe Toyota… Phức tạp, phải không nào? Ngược lại, câu hỏi của ta chỉ yêu cầu có một câu trả lời duy nhất: tìm hiểu vì sao gã đó biết cô sẽ tới. Và ở đây đầu mối chính là cô. Những ai biết cô tới đó? Một trong số những người biết điều đó đã báo cho hắn. Không thể đơn giản hơn, phải không nào?”
“Vâng, nếu cụ thấy vậy…,” Solongo do dự. “Và về người đàn ông mà cụ nói vẫn còn sống, cụ có biết thêm gì không ạ?”
“Anh ta sẽ quay trở lại, tâm hồn và trái tim vấy máu vì những con quái vật mà chỉ riêng cô biết cách ngăn chúng hành động.”
“Những lời lẽ bí hiểm này nghĩa là gì vậy, thưa cụ? Cháu chỉ muốn biết anh ấy có khỏe không và khi nào anh ấy sẽ quay về.”
“Cảm ơn cô vì món trà,” ông lão du mục trả lời trong khi đặt cái tách xuống đất để đứng dậy, cứng đờ như một cậu nhóc quá lịch sự. “Từ nơi anh ta sắp quay trở về, người ta không bao giờ trở về trọn vẹn. Điều đó có thể hủy hoại anh ta, hay tàn phá mọi thứ quanh anh ta, hay xây dựng lại anh ta. Điều đó quá mạnh mẽ với một pháp sư già như ta. Giờ thì ta phải chia tay cô, có người sắp đến.”
Ông lão chắp hai tay lại chào Solongo rồi ra khỏi lều. Ông kiểm tra đai buộc, leo lên yên rồi điều khiển con ngựa quay đầu lại. Ông lão rời đi không nói một lời, không ngoái đầu nhìn lại, song ông mang trong tim một nụ cười vì biết Solongo ở đằng sau đang rảy một chút sữa từ trong bát đựng ra bốn phương trời để chúc ông thượng lộ bình an. Khi ông lão đi qua hàng rào, một chiếc ô tô nhỏ màu xám xấu xí dừng lại trên lối mòn chạy dọc theo bờ rào.